|
Ảnh
số là ǵ?
Ánh sáng và mầu sắc
Kiểm
soát mức độ sáng tối của h́nh
Kiểm soát mức độ sắc nét của h́nh
ảnh
Các
kỹ thuật chụp
Một số
thuật ngữ máy ảnh số
Hướng dẫn lựa
chọn máy ảnh số (Theo CNET.com)
Bảng giá tốt nhất (máy mới, nguyên hộp)
* Mọi yêu cầu thêm
thông tin, góp ý về thuật ngữ...xin gửi tới
hai@the220.com.
Xin cám ơn.
MỘT SỐ
THUẬT NGỮ MÁY ẢNH KỸ THUẬT SỐ
AE lock (Automatic
Exposure lock):
Khoá giá trị lộ
sáng
AF lock (Auto Focus lock):
Khoá tiêu cự
AF
assist Lamp (Auto
focus assist lamp):
Đèn hỗ trợ canh nét tự động
Aperture: Khẩu độ hay độ
mở ống kính
Aperture priority:
Chụp ưu tiên khẩu độ
(độ mở ống kính)
Auto
Bracketing Exposure:
chụp bù trừ mức độ
phơi sáng
Barrel Distortion
CCD/CMOS sensor
Chromatic Aberrations (purple
fringing)
DOF (Depth of field):
Vùng ảnh rõ hay độ
sâu ảnh trường
Digital Zoom: Zoom kỹ thuật số
Effective Pixels:
Điểm ảnh hữu ích
Exposure:
Độ phơi sáng
Full
Manual
Sensitivity (ISO): Độ nhậy sáng
Shutter
Priority: Chụp
ưu tiên tốc độ trập
Storage card:
Thẻ nhớ
-
PCMCIA PC Card
-
Compact Flash Type I
-
Compact Flash
Type II
-
SmartMedia
- Sony
MemoryStick
-
Các loại thẻ khác: Secure Digital,
Multimedia Card, Sony MemoryStick Pro.
Types of metering:
Các kiểu đo sáng
Viewfinder: Kính ngắm, Ống
ngắm
Optical viewfinder
(Kính ngắm
quang học)
Electronic
Viewfinder (LCD Viewfinder):
Kính ngắm điện tử
TTL
Optical Viewfinder
White Balance: Cân bằng trắng
AE lock (Automatic Exposure
lock): Khoá giá trị lộ sáng
Thể
hiện khả năng của máy khoá độ mở ống kính và độ nhậy sáng
giúp cho việc chụp nhiều ảnh khác nhau với cùng một giá trị
lộ sáng. Điều này đặc biệt quan trọng khi chụp toàn cảnh
(panorama), các ảnh nối với nhau phải có cùng một giá trị
lộ sáng
AF lock (Auto Focus lock):
Khoá tiêu cự
Đây
là tùy chọn (thường gặp trên các máy tự động) cho phép giữ
cố định cự ly canh nét khi chụp ở chế độ tự động
AF assist Lamp (Auto
focus assist lamp): Đèn hỗ trợ canh nét tự động
Một số máy ảnh được trang
bị đèn hỗ trợ canh nét. Đèn này thường nằm ngay phía trên
ống kính, có tác dụng rọi sáng chủ đề định chụp trong điều
kiện thiếu sáng do đó hỗ trợ hệ thống canh nét của máy ảnh
(Các máy ảnh kỹ thuật số thường gặp khó khăn khi canh nét
trong điều kiện thiếu sáng). Loại đèn này có tầm hoạt động
ngắn thường không vượt quá 4 mét.
Một
số máy đắt tiền được trang bị đèn canh nét phát ra tia hồng
ngoại thay vì phát ra ánh sáng nhìn thấy được. Các đèn này
có tầm hoạt động xa hơn, hỗ trợ canh nét tự động tốt
hơn

Aperture: Khẩu độ hay độ
mở ống kính
Khẩu độ là một lỗ hổng
trong ống kính thường được hình thành bởi các lá thép chồng
lên nhau, các lá thép này sẽ di động tạo ra độ mở lớn hay
nhỏ cho khẩu độ - nguyên tắc hoạt động này rất giống con
ngươi của mắt người. Khẩu độ mở lớn sẽ cho ánh sáng đi qua
ống kính nhiều hơn và ngược lại. Giá trị của độ mở ống
kính thường được biểu thị theo 3 cách: f/8, F8, 1:8 (ba cách
biểu thị này thể hiện cùng một độ mở). Giá trị này thực
chất là tỉ lệ giữa độ dài tiêu cự của ống kính với đường
kính của khẩu độ mở ra.

f=
độ dài tiêu cự ống kính, A= đường kính của khẩu độ

Trị số
f càng nhỏ thì độ mở của khẩu độ càng lớn. Trên ống kính
thường được in hay khắc giá trị f nhỏ nhất (Độ mở lớn
nhất)- giá trị nhỏ nhất này còn thể hiện độ “nhạy” của
ống kính. Trên các máy thuộc dòng chuyên nghiệp thường có
vòng chỉnh khẩu độ. Các máy canh nét tự động (autofocus)
không có vòng chỉnh khẩu độ, độ mở lớn nhỏ của khẩu độ
được điều khiển bằng điện tử , màn hình tinh thể lỏng LCD
sẽ báo cho biết khẩu độ đang mở là bao nhiêu. Khi trị số f
tăng lên một giá trị trong dãy giá trị độ mở ống kính (..
F2.0, F2.8, F4.0, F5.6, F8.0....) thì lượng ánh sáng đi qua ống
kính sẽ giảm đi một nửa
Aperture priority: Chụp ưu tiên khẩu độ (độ mở
ống kính)
Tùy
chọn cho phép người dùng tự lựa chọn độ mở ống kính, tốc
độ trập (shutter speed) sẽ do máy ảnh tính toán sao cho thu
được ảnh có độ phơi sáng(exposure) phù hợp. Tùy chọn này
đặc biệt quan trọng khi người chụp muốn kiểm soát vùng ảnh
rõ (DOF: depth of field) hoặc tạo hiệu ứng đặc biệt (special
effect
Auto Bracketing Exposure: chụp
bù trừ mức độ phơi sáng
Đây
là thuật ngữ dùng để chỉ chế độ chụp cho phép chụp nhiều
ảnh tại một thời điểm trên cùng một cảnh, mỗi ảnh chỉ khác
nhau về độ phơi sáng. Mức khác biệt về giá trị phơi sáng
giữa các ảnh thay đổi từ 0,3 EV (exposure value) đến 2,0 EV.
Mức khác biệt này trên đa số máy đều có thể chọn được. Từ
tự động (Auto) ở đây có nghĩa là máy sẽ tự động chụp 2 hay
3 hoặc 5 ảnh, trên một số máy người dùng còn có thể tự đặt
số lượng ảnh chụp trên một lần bấm máy. Chế độ chụp này
rất hữu dụng khi người chụp không chắc chắn mức độ phơi sáng
nào là phù hợp nhất là khi chụp các cảnh có độ tương phản
cao

Trong 3
ảnh
trên: ảnh bên trái được chụp ở mức độ quá sáng (overexposure)
các chi tiết ở vùng sáng sẽ bị mờ hoặc không rõ, ảnh ở
giữa có mức độ phơi sáng phù hợp các chi tiết ở vùng tối
và vùng sáng đều rõ nét, ảnh bên phải có mức độ phơi sáng
quá tối (underexposure)
các chi tiết ở vùng tối sẽ bị mờ hoặc không rõ nét
Barrel Distortion
Đây
là hiện tượng các đường thẳng nằm ở rìa ảnh bị uốn cong ỏ
giữa, nguyên nhân của hiện tượng này nằm ở thiết kế hình
cầu của thấu kính. Hiện tượng này chỉ dễ nhận ra khi chụp
ở góc rộng và có các đường thẳng nằm ở rìa ảnh. Đối với
người chụp không chuyên nghiệp có lẽ không cần quan tâm đến
hiện tượng này

CCD/CMOS sensor
Đây
là bộ cảm biến ánh sáng nằm trong máy ảnh kỹ thuật số có
tác dụng chuyển ánh sáng thu nhận từ môi trường bên ngoài
sang tín hiệu điện tử. CCD bao gồm hàng triệu tế bào quang
điện, mỗi tế bào có tác dụng thu nhận thông tin về từng
điểm ảnh (Pixel
Để có
thể thu được mầu sắc, máy ảnh kỹ thuật số sử dụng bộ lọc
mầu (color filter) trên mỗi tế bào quang điện. Các tín hiệu
điện tử thu được trên mỗi tế bào quang điện sẽ được chuyển
đổi thành tín hiệu kỹ thuật số nhờ bộ chuyển đổi ADC
(Analog to digital converter). Vào thời điểm hiện tại có hai
loại bộ cảm biến ánh sáng : CCD (Charged Couple Device) và CMOS
(Complimentary metal-oxide). Giá thành sản xuất CCD thường đắt
hơn so với CMOS, nguyên nhân chủ yếu là do CCD đòi hỏi phải có
dây chuyền sản xuất riêng trong khi có thể sử dụng dây chuyền
sản xuất chip, bảng mạch thông thường để sản xuất CMOS


Chromatic
Aberrations (purple fringing)
Hiện
tượng xuất hiện viền màu tím xung quanh các vật thể chụp

Hiện
tượng này xảy ra ở hầu hết các máy ảnh bán chuyên nghiệp
khi chụp các cảnh có độ tương phản cao. Nguyên nhân của hiện
tượng này do sự khác biệt về bước sóng của các loại ánh
sáng màu do đó thấu kính trong máy ảnh không có khả năng hội
tụ chính xác toàn bộ ánh sáng chiếu vào lên mặt phẳng tiêu
cự. Mức độ nặng nhẹ của hiện tượng này phụ thuộc vào chất
lượng của thấu kính mà cụ thể là mức độ tán sắc của thấu
kính. Để giảm bớt hiện tượng này các máy ảnh chuyên nghiệp
được trang bị thêm một số thấu kính đặc biệt có chỉ số
khúc xạ khác nhau nhằm tạo ra sự hội tụ chính xác lên mặt
phẳng hội tụ (focal plane)

Người
dùng còn có thể khắc phục hiện tượng này bằng phần mềm
chỉnh sửa ảnh (Photoshop..
DOF (Depth of field): Vùng ảnh rõ hay độ sâu ảnh
trường
Mặc
dù chức năng chính của khẩu độ là điều khiển lượng ánh
sáng đi qua, khẩu độ còn được dùng để mở rộng hay giới hạn
khu vực hội tụ rõ nét trong hình ảnh. Cự ly khoảng cách mà
các chủ đề hay sự vật hiện rỡ nét trong ảnh được gọi là
vùng ảnh rõ hay chiều sâu ảnh trường (depth of field).Vùng ảnh
rõ này thường nằm 1/3 phía trước tiêu điểm và 2/3 phía sau
tiêu điểm. Khẩu độ đóng càng nhỏ (trị số f lớn) thì vùng
ảnh rõ càng sâu, cảnh trước và sau tiêu điểm sẽ sắc nét hơn.
Khẩu độ mở càng lớn (trị số f nhỏ) thì vùng ảnh rõ càng
cạn, các cảnh phía trước và phía sau tiêu điểm (focus point)
sẽ mờ đ

Khi xem xét hai ảnh trên dễ
dàng nhận thấy: ảnh chụp với độ mở ống kính lớn (f/2.4)
thì chỉ có tấm bưu thiếp đầu tiên là rõ nét (hai tấm phía
sau đều mờ), ảnh chụp với độ mở ống kính nhỏ (f/8) hai tấm
bưu thiếp phía sau sẽ rõ nét hơn.
Vùng
ảnh rõ còn phụ thuộc vào:
-
khoảng cách giữa máy ảnh đến cảnh chụp (subject distance),
càng gần thì vùng ảnh rõ càng cạn.
-
độ dài tiêu cự (focal lenth), tiêu cự càng nhỏ thì vùng ảnh
rõ càng sâu. Ảnh chụp bằng ống kính 28mm độ mở ống kính
f/5.6 sẽ có vùng ảnh rõ sâu hơn ảnh chụp bằng ống kính 70mm
cùng độ mở ống kính
Digital Zoom: Zoom kỹ
thuật số
Đây
không phải là zoom thật sự, đây thực chất là việc máy ảnh
cắt lấy phần trung tâm của cảnh rối dùng thuật toán nội suy
để tạo ra ảnh, vì vậy zoom kỹ thuật số làm giảm chất lượng
của ảnh bù lại khả năng zoom của máy được mở rộng
Effective Pixels:
Điểm ảnh hữu ích
Hầu
hết các nhà sản xuất đều ghi số lượng điểm ảnh có trên bộ
cảm biến ánh sáng để chỉ độ phân giải của máy ảnh.Tuy nhiên
độ phân giải thực phải là số lượng thực sự các pixel ghi
nhận hình ảnh (không phải tất cả các tế bào quang điện có
trên bộ cảm biến ánh sáng làm nhiệm vụ ghi nhận hình ảnh).
Effective pixels (tuy không hoàn toàn chính xác) thường dùng để
chỉ độ phân giải thực
Exposure:
Độ phơi sáng
Tự động
điều chỉnh mức độ phơi sáng (Automatic exposure control)
là một trong những đặc tính không thể thiếu được đối với
máy ảnh kỹ thuật số. Máy ảnh sẽ tự động đo cường độ ánh
sáng từ đó xác định tốc độ trập và độ mở ống kính cho
phù hợp với chủ đề chụp. Nhờ có đặc tính này người chụp
chỉ còn phải tập trung đến chủ đề định chụp. Đặc tính này
cũng cực kỳ hữu dụng khi chụp các chủ đề động khi mà thời
gian để chuẩn bị lựa chọn chế độ chụp rất ngắn.
Tuy nhiên
trong một số trường hợp nếu chỉ dựa vào chế độ tự động
điều chỉnh mức độ phơi sáng, người chụp sẽ thu được những
bức ảnh hoặc là quá sáng (overexposure)
hoặc là quá tối (underexposure). Lúc này
người dùng cần đến tùy chọn cho phép chỉnh giá trị phơi
sáng EV (Exposure value) nhằm tăng giảm mức
độ sáng của ảnh chụp. Một trong những biện pháp nhằm thu
được ảnh chụp có độ phơi sáng phù hợp là chụp cùng lúc 3
ảnh. Ảnh đầu tiên có mức độ phơi sáng chuẩn theo như tính
toán của máy, ảnh thứ 2 được tăng mức độ phơi sáng lên một
giá trị, ảnh thứ ba được giảm mức độ phơi sáng xuống một
giá trị. Sau đó người chụp sẽ quyết định ảnh chụp nào có
mức độ phơi sáng phù hợp nhất trong 3 ảnh trên. Kiểu chụp
này thường được gọi là chụp bù trừ (bracketing).
Mức độ phơi
sáng bị ảnh hưởng hay phụ thuộc vào bốn yếu tố:
- Cường độ sáng (Intensity) của ánh sáng
hắt vào chủ đề, hay độ sáng (Luminance) của chủ đề phản
chiếu tới máy ảnh.
- Độ nhậy sáng ISO
- Khoảng thời gian lộ sáng (điều khiển bằng tốc độ trập)
- Lượng sáng cho vào CCD (điều khiển bằng khẩu độ
Full
Manual
Tùy
chọn cho phép chỉnh cả tốc độ trập và độ mở ống kính (một
tùy chọn không thể thiếu với nhưng người chuyên nghiệp). Người
chụp ảnh có được khả năng kiểm soát hoàn toàn mức độ phơi
sáng tạo thuận lợi tối đa cho việc sáng tạo ảnh. Tùy chọn
này thường chỉ có ở các máy chuyên nghiệp và một số ít
máy bán chuyên nghiệp
Sensitivity (ISO): Độ
nhậy sáng
Đối với các
máy ảnh truyền thống sử dụng film, chỉ số ISO biểu thị độ
nhậy của film (film’s sensitivity), chỉ số ISO lớn thì film có
khả năng nhạy sáng cao do đó sẽ thích hợp cho chụp ở tốc độ
trập nhanh hay trong điều kiện thiếu sáng (low light). Tuy nhiên
film có độ nhậy sáng càng lớn thì càng có xu hướng bị hiện
tượng hạt mầu to (grainy).
Đối với máy
ảnh kỹ thuật số, độ nhậy sáng phụ thuộc bộ cảm biến ánh
sáng CCD/CMOS. Khác với máy ảnh dùng film người chụp bị phụ
thuộc vào độ nhậy sáng của film, độ nhậy sáng của máy ảnh
kỹ thuật số có thể chỉnh được. Khả năng chỉnh độ nhậy sáng
ngay trên máy cũng là một ưu thế của máy ảnh kỹ thuật số
khi so sánh với máy ảnh dùng film. Tuy nhiên CCD là thiết bị
tương tự (analog) do đó khi tăng độ nhậy sáng có nghĩa là
phải tăng cường khuyếch đại tín hiệu điện tử đồng nghĩa với
việc khuyếch đại các tín hiệu nhiễu, ảnh cũng sẽ bị nhiễu
màu nhiều hơn. Một vài tiến bộ gần đây trong công nghệ sản
xuất chip đã cho phép tăng độ nhậy sáng vượt qua giá trị ISO
400 mà ít ảnh hưởng đến độ nhiễu màu
Shutter Priority: Chụp ưu tiên
tốc độ trập
Tùy chọn cho
phép người dùng tự điều chỉnh tốc độ trập, khẩu độ hay độ
mở ống kính sẽ do máy tính toán nhằm thu được ảnh có độ
phơi sáng phù hợp nhất. Tùy chọn này thường được sử dụng
khi muốn tạo hiệu ứng đặc biệt, ví dụ như ảnh mờ của mặt
nước trên sông, hoặc chụp bắt các cảnh động (hoạt động thể
thao..)
Storage card: Thẻ
nhớ
Thẻ nhớ
trong máy ảnh kỹ thuật số thực chất là một thiết bị lưu
trữ di động chứa đựng thông tin về ảnh chụp dưới dạng kỹ
thuật số (bit, bytes). Hầu hết các loại máy ảnh kỹ thuật số
đều có thẻ nhớ đi kèm, chỉ một số ít máy ảnh có tích hợp
sẵn bộ nhớ bên trong. Có rất nhiều loại thẻ nhớ có trên thị
trường tuy nhiên chỉ có một số ít tỏ ra thông dụng.
PCMCIA PC Card

Thẻ nhớ
loại này có kích cỡ, giao tiếp giống hệt thẻ PCMCIA dùng cho
máy tính xách tay do đó có thể cắm trực tiếp vào khe PCMCIA
mà không cần adapter.
Chỉ
có các máy chuyên nghiệp SLR’s (single-lens reflects) là sử
dụng loại thẻ nhớ này, cho đến thời điểm hiện tại loại thẻ
nhớ này có 3 type: type I, II, III.
Compact Flash Type I

Có thể nói
đây là loại thẻ nhớ thông dụng nhất hiện nay, các máy ảnh
của NIKON và CANON đều sử dụng loại thẻ nhớ này. Ngoài ra
có rất nhiều thiết bị trợ giúp cá nhân (PDA) hỗ trợ định
dạng này.
Kích thước thẻ: 43.0 x 36.0 x 3.3 mm
Compact Flash Type II

Điểm khác
biệt duy nhất giữa type I và II là kích cỡ. Type II dầy hơn
type I (5,5 mm so với 3,3 mm). Kích cỡ lớn hơn sẽ cho phép tăng
dung lượng nhớ dễ dàng hơn.
Kích thước thẻ: 43.0 x 36.0 x 5.5 mm
SmartMedia

SmartMedia
mỏng hơn khá nhiều khi so với compact flash. Loại card này không
có chip điều khiển nằm sẵn trong thẻ nhớ (khác với Compact
flash có sẵn chip điều khiển) điều này đồng nghĩa với việc
trong máy ảnh phải có chip điều khiển để nhận biết thẻ nhớ.
Loại thẻ nhớ này thường thấy trong các máy ảnh Fujilm,
Olympus…
Kích thước thẻ: 45.0 x 37.0 x 0.76
Sony MemoryStick

Khi Sony tung
ra loại thẻ nhớ kích cỡ của viên kẹo cao su, không ai ngờ
rằng nó lại trở nên phổ biến như hiện nay. Một trong những
điểm yếu của loại thẻ này là dung lượng lưu trữ. Dung lượng
tối đa cho đến thời điểm hiện tại là 128 MB.
Kích thước thẻ: 50.0 x 37.0 x 0.76
Các loại thẻ khác
Các loại
thẻ ít thông dụng hơn bao gồm: SecureDigital, Multimedia card cho
đến gần đây là MemoryStick pro, XD card..
Types of metering:
Các kiểu đo sáng
Không phải
tất cả các vùng nằm trong chủ đề chụp đều có mức độ quan
trọng như nhau đối với việc tạo nên bức ảnh cũng như quyết
định mức độ phơi sáng của ảnh. Ví dụ như khi chụp phong
cảnh, mức độ phơi sáng của chủ đề chụp ở gần sẽ quan trọng
hơn là mức độ phơi sáng của bầu trời có trong chủ đề chụp.
Đây là nguyên nhân các máy ảnh kỹ thuật số thường cung cấp
các tùy chọn về các kiểu đo sáng.
- Đo sáng theo ma trận (Matrix
metering or multi-segment metering): Đây
là kiểu đo sáng ngày càng trở nên phổ biến do có độ chính
xác và độ nhậy cao. Chủ đề chụp được chia ra làm nhiều vùng
(segment), mỗi vùng đều được đo sáng riêng biệt, sau đó các
thông số đo được tổng hợp qua đó máy ảnh tính ra mức độ phơi
sáng phù hợp nhất cho chủ đề định chụp.
- Đo sáng
ưu tiên trung tâm (Center-weighted):
Đây là kiểu đo sáng thường gặp.
Máy ảnh đo sáng căn cứ theo toàn bộ hình ảnh thấy được trong
kính ngắm nhưng nhấn mạnh vùng ở giữa kính ngắm (Thường là
vùng quan trọng nhất trong chủ đề chụp)
-
Đo sáng điểm (Spot metering):
Máy ảnh chỉ đo sáng một vùng rất nhỏ nằm giữa hình ảnh
thấy được trong kính ngắm. Kiểu đo sáng này cho phép nhấn
mạnh chỉ một vùng đặc biệt nằm trong chủ đề chụp thường
được sử dụng khi chụp các chủ đề mà có hậu cảnh quá sáng
hoặc quá tối
TIFF (Tagged Image File
Format)
Thuật ngữ
chỉ một kiểu định dạng ảnh. Đây là kiểu định dạng ảnh rất
phức tạp tuy nhiên cũng rất linh hoạt. Khi sử dụng định dạng
ảnh này các dữ liệu số về ảnh đều được giữ nguyên không bị
mất bởi các thuật toán “nén ảnh” nhằm làm giảm kích cỡ
của file ảnh.
Định dạng
ảnh TIFF không phải là một lựa chọn tốt cho việc lưu trữ ảnh
đặc biệt là lưu trữ trên thẻ nhớ do các file này có kích
thước quá lớn. Với máy ảnh 3 triệu điểm, ảnh chụp ở chế
độ TIFF thường có kích thước lớn hơn 9 MB !.
Viewfinder: Kính ngắm,
Ống ngắm
Máy ảnh kỹ
thuật số thường được trang bị một trong 3 loại kính ngắm:
quang học, điện tử và loại quang học TTL. Kính ngắm quang học
là loại phổ biến nhất. Vấn đề thường gặp nhất đối với
kính ngắm là khả năng thể hiện chính xác toàn bộ khung hình
định chụp (framing). Một số loại không định khung được chính
xác theo chiều dọc hoặc chiều ngang, một số loại chỉ định
khung được chính xác theo tỉ lệ phần trăm (thường là 80%-90%)
khi so sánh với khung hình của ống kính, đây cũng là một
trong những nguyên nhân mà hầu hết các máy ảnh kỹ thuật số
được trang bị màn hình LCD nhằm định khung (framing) được
chính xác hơn.
Optical viewfinder (Kính
ngắm quang học)

Đây là loại
phổ biến và có cấu trúc đơn giản nhất. Máy ảnh trang bị
loại kính ngắm này đôi khi còn được gọi là “Máy ảnh kính
ngắm thẳng” nhằm phân biệt với các máy SLR chuyên nghiệp. Tất
cả các máy thuộc loại compact đều trang bị kính ngắm kiểu
này. Loại kính ngắm này có cấu trúc đơn giản, dễ chế tạo
tuy nhiên do kính ngắm và kính thu hình nằm ở hai vị trí
khác nhau nên không thể gióng khuôn hình chính xác trên cùng
một khu vực, để loại trừ lỗi này trên một số kính ngắm có
các đường kẻ nhằm chỉ thị khung hình thực tế kính thu hình
sẽ chụp (hình trên bên trái).
Electronic Viewfinder (LCD Viewfinder):
Kính ngắm điện tử

Kính ngắm
điện tử thực chất là một màn hình LCD nhỏ hiển thị khung
hình giống hệt với khung hình hiển thị trên màn hình LCD.
Kính ngắm loại này thường có độ chính xác cao hơn và không
bị lỗi thị sai.
TTL Optical
Viewfinder

Đây là loại
kính ngắm tốt nhất thường thấy trên các máy ảnh SLR (single
len reflects). Ống ngắm loại này trực tiếp lấy hình trên ống
kính thu hình của máy ảnh thông qua hệ thống gương hoặc lăng
kính phản chiếu do đó hoàn toàn loại trừ lỗi thị sai. Loại
kính ngắm này chỉ có trên các máy ảnh cao cấp do việc chế
tạo rất phức tạp và đắt tiền.
White Balance: Cân bằng
trắng
Đây là thuật
ngữ dùng để chỉ hệ thống cân chỉnh mầu sắc cho phù hợp với
loại ánh sáng có trong môi trường. Mắt người luôn luôn tự
điều chỉnh cho phù hợp với kiểu ánh sáng có trong môi
trường,nhưng máy ảnh cần phải tìm điểm trắng (white point)
lấy làm điểm gốc để cân chỉnh màu trong các điều kiện ánh
sáng khác nhau. Tất cả các máy ảnh kỹ thuật số đều có cơ
chế tự động cân bằng trắng, máy ảnh sẽ tự động tính toán
xem xét kiểu ánh sáng có trong môi trường rồi tìm ra mức độ
cân bằng trắng phù hợp nhất. Hệ thống tự động này cho đến
hiện tại không đáp ứng được tất cả các kiểu chiếu sáng một
cách chính xác, cũng như không đáp ứng được tất cả nhu cầu
của người chụp do đó trong máy ảnh còn có sẵn các tuy chọn
cân bằng trắng trong các điều kiện chiếu sáng thường gặp
nhất như: dưới ánh nắng, mây mù, dưới ánh đèn Neon, dưới ánh
đèn vàng, dưới ánh đèn cao áp...Tất cả các tùy chọn này
đều rất hữu ích khi được lựa chọn một cách phù hợp.
Các loại
máy ảnh bán chuyên nghiệp còn cho phép người dùng tự cân
bằng trắng thông qua chế độ “white preset or Custom preset”.
Ở chế độ này máy ảnh đo điểm trắng dựa trên tờ giấy,
card màu trắng qua đó tính toán nhiệt độ mầu
(color temperature), ảnh chụp vì vậy sẽ có mầu sắc chuẩn xác
hơn hoặc người dùng có thể sử dụng tính năng này tạo ra các
ảnh có mầu sắc đặc biệt khác với thực tế (hiệu ứng ảnh).
|